Phim Mỹ

[phim my][bleft]

Phim ấn độ

[phim an do][grids]

Phim hài

[phim hai][twocolumns]

Phim hàn quốc

[phim han quoc][bsummary]

Seo wordpress

[wordpress][bsummary]

Các giai đoạn phát triển của thị trường bán lẻ thực phẩm Việt Nam

Bài viết liên quan: Đi đây đó

Nguồn tài liệu tham khảo dành cho học tập, nghiên cứu về các giai đoạn phát triển của thị trường bán lẻ thực phẩm Việt Nam.

tin tức, tài liệu tham khảo


Thị trường bán lẻ thực phẩm Việt Nam phát triển qua 4 giai đoạn chính (P603)

1.   Giai đoạn 1 :”Pre-transformation conditions” (pre – 1986): các cơ sở bán lẻ và nhà phân phối chủ yếu thuộc nhà nước quản lý. Các nhà bán lẻ hầu như nắm thế độc quyền hoặc cạnh tranh rất ít  trong thị trường bán lẻ thực phẩm tại Việt Nam trong giai đoạn này.
          Các nhà bán lẻ cá nhân chiếm thị phần rất nhỏ. Thị phần chủ yếu nằm trong tay các doanh nghiệp nhà nước cả về thị trường thực phẩm tươi sống và thực phẩm khác.
          Giai đoạn này kéo dài hơn 30 năm (1954-1986), các hoạt động thương mại của Việt Nam luôn chịu sự chi phối bởi lý thuyết độc quyền của khối doanh nghiệp nhà nước. Mặc dù vào cuối những năm 1960, siêu thị đã xuất hiện và hoạt động tại Sài Gòn (TPHCM). Tuy nhiên, sau năm 1975 Mỹ rút quân khỏi Việt Nam thì những siêu thị này trở thành những quầy hàng thuộc quản lý của nhà nước.


2.   Giai đoạn 2: Early transition stage: privatization and domestic restructuring (1986-2001):
          Điểm nổi bật của giai đoạn này chính là chính sách mở cửa thị trường của chính phủ Việt Nam vào năm 1986. Các nhà đầu tư nước ngoài được đầu tư vào thị trường Việt Nam thông qua luật Đầu tư trực tiếp nước ngoài được ban hành vào năm 1987.
          Người nông dân được tự do canh tác và hưởng thu nhập từ chính mảnh đất của họ. Chính điều này đã đưa Việt Nam trở thành nước xuất khẩu gạo đứng thứ 3 thế giới sau Thái Lan và Mỹ.  Sự phát triển này đã ảnh hưởng đáng kể đến cấu trúc thị trường bán lẻ tại Việt Nam.
Giai đoạn đầu, sự phát triển, mở rộng siêu thị trong giai đoạn này rất khiêm tốn, các công ty tư nhân và liên doanh sở hữu chủ yếu các cửa hàng tiện lợi và siêu thị hoạt động trên thị trường (chiếm đến 95%).
Tháng 10/1993 siêu thị đầu tiên thuộc doanh nghiệp nhà nước, Minimart, được mở tại TP.HCM; mặc dù giá bán tại siêu thị cao hơn giá của các nhà bán lẻ khác từ 20-30% nhưng siêu thị vẫn thu hút được khách hàng lớn.
Từ năm 1996, một số siêu thị quy mô lớn (large-sized super market) được mở tại TPHCM và Hà Nội. Bảng số liệu 5 (P606).
Đến năm 2000-2001, cửa hàng tiện lợi đầu tiên của Co-op mart (thuộc tập đoàn Sài Gòn Co.op) được mở tại TPHCM. Tiếp đến là chuỗi các cửa hàng của Phở 24 và một số của hàng tiện lợi 24/7 được mở và hoạt động thành công trên khắp khu vực Đông Nam Á.
Sự phát triển của khối ngành bán lẻ hiện đại trong giai đoạn trước những năm 1990 vẫn chủ yếu thuộc các doanh nghiệp nội địa bởi vì dòng vốn đầu tư FDI trong giai đoạn này vẫn còn hạn chế, một số đạo luật cấm đối với khối ngành tư nhân và môi trường đầu tư không minh bạch cũng là lý do nguồn vốn đầu tư FDI trong giai đoạn này không được phát triển mạnh.
3.   Giai đoạn 3 và 4: initial globalization (2002-2006); full globalization following WTO accession (2007-present).
          Giai đoạn này có các đặc điểm chính như sau:
-       Sự phát triển nhanh chóng của khối bán lẻ hiện đại. (rapid rise of the modern retail sector).
-       Multi-nationalisation.
-       Intra-country super market diffution and specific concentration in the supermartket sector.
-       Further diversification in store formats.
          Bảng cấu trúc thị trường bán lẻ ngành thực phẩm của Việt Nam:
          Việt Nam mở cửa thị trường bán lẻ từ ngày 1/1/2009, và thị trướng bán lẻ Việt Nam luôn được đánh giá là giàu tiềm năng, thuộc nhóm năm thị trường hấp dẫn nhất thế giới. Việc này đồng nghĩa là sự cạnh tranh sẽ tăng lên rất nhiều và thị trường bán lẻ Việt Nam sẽ có sự thay đổi về chất. Trong thời gian ngắn, hệ thống phân phối hiện đại tại VN đã có gần 700 siêu thị, 130 trung tâm thương mại và hơn 1.000 cửa hàng tiện ích. Trong đó có 22 doanh nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài đang kinh doanh tại Việt Nam. Các kênh bán lẻ hiện đại đã chiếm khoảng 20% thị trường bán lẻ và dự kiến năm nay sẽ tăng lên 40%. Dự kiến đến 2020, toàn quốc sẽ có khoảng 1,200 -1,500 siêu thị, 157 trung tâm mua sắm và 180 trung tâm thương mại, nâng thị phần nắm giữ lên 45%. Như vậy, đến tận 2020, các cửa hàng tiện lợi, chợ truyền thống và các gian hàng tạp hóa quy mô gia đình vẫn còn chiếm hơn 50% thị phần bán lẻ Việt Nam.
Dư địa phát triển bán lẻ hiện đại, đặc biệt là nông thôn vẫn còn rất lớn. Thị phần chuỗi bán lẻ hiện đại trên thị trường Việt Nam đang là thấp nhất khu vực, chỉ chiếm khoảng 25% nên dư địa sẽ rất lớn và sẽ xuất hiện nhiều cạnh tranh.Thêm vào đó, các thay đổi trong Luật Doanh nghiệp, Luật Đầu tư, các chính sách, quy phạm pháp luật… cũng như những ràng buộc khi tham gia vào các hiệp định tự do thương mại quốc tế đều mở cửa cho nền kinh tế, san bằng các rào cản, khiến thị trường bán lẻ Việt Nam trở nên hấp dẫn không chỉ với các doanh nghiệp trong nước mà còn đối với các nhà đầu tư nước ngoài.
SỐ LƯỢNG CHỢ TRUYỀN THỐNG Ở VIỆT NAM QUA CÁC NĂM
Đơn vị tính: cái
2011
2012
2013
2014
CẢ NƯỚC
8.550
8.547
8.546
8.568
Đồng bằng sông Hồng
1.782
1.798
1.815
1.823
Trung du và miền núi phía Bắc
1.423
1.407
1.429
1.442
Bắc Trung Bộ và duyên hải miền Trung
2.427
2.457
2.466
2.482
Tây Nguyên
370
368
362
369
Đông Nam Bộ
766
778
748
744
Đồng bằng sông Cửu Long
1.782
1.739
1.726
1.708
Nguồn: Tổng cục thống kê 
SỐ LƯỢNG SIÊU THỊ Ở VIỆT NAM QUA CÁC NĂM
Số lượng: cái
2011
2012
2013
2014
CẢ NƯỚC
638
659
724
762
Đồng bằng sông Hồng
165
171
171
201
Trung du và miền núi phía Bắc
63
66
76
89
Bắc Trung Bộ và duyên hải miền Trung
144
140
167
172
Tây Nguyên
24
25
24
23
Đông Nam Bộ
186
195
223
210
Đồng bằng sông Cửu Long
56
62
63
67
Nguồn: Tổng cục thống kê
SỐ LƯỢNG TRUNG TÂM THƯƠNG MẠI Ở VIỆT NAM QUA CÁC NĂM
Số lượng: cái
2011
2012
2013
2014
CẢ NƯỚC
116
115
132
139
Đồng bằng sông Hồng
38
36
33
40
Trung du và miền núi phía Bắc
7
10
10
13
Bắc Trung Bộ và duyên hải miền Trung
22
24
35
23
Tây Nguyên
1
1
1
5
Đông Nam Bộ
44
40
46
52
Đồng bằng sông Cửu Long
4
4
7
6
Nguồn: Tổng cục thống kê
Thị trường này sẽ có sự cạnh tranh khốc liệt giữa các doanh nghiệp trong nước và nước ngoài. Hàng loạt các doanh nghiệp nước ngoài đã và đang ổ ạt vào Việt Nam. Các nhà đầu tư nước ngoài không chỉ thâm nhập vào Việt Nam bằng con đường liên doanh liên kết trong khâu phân phối mà ngay từ khâu sản xuất. Đơn cử như Công ty C.P của Tập đoàn C.P Thái Lan đang chiếm 50% thị phần trứng, 30% thị phần gà công nghiệp, 7% thị phần thức ăn chăn nuôi ở Việt Nam. Tập đoàn bán lẻ số 1 Hàn Quốc – Lotte - đặt mục tiêu 60 siêu thị tại Việt Nam vào năm 2020 và Aeon – một "ông lớn" khác trong ngành bán lẻ Nhật Bản thông báo đã mở trung tâm thương mại thứ 2 cũng đã không giấu giếm ý định thống lĩnh thị trường Việt. Họ dự kiến tới 2020 sẽ mở 20 TTTM tại Việt Nam. Tận dụng tâm lý tin cậy và thích dùng hàng Nhật của người tiêu dùng Việt, Aeon sử dụng phương án dùng 1/3 hàng Nhật, 1/3 hàng Việt Nam và 1/3 hàng nhập từ các nước khác. Các tập đoàn bán lẻ ngoại vào Việt Nam từ trước như chuỗi siêu thị Big C, và nhất là các chuỗi cửa hàng tiện lợi quốc tế đang không ngừng mở rộng quy mô đầu tư.
 Như vậy, các doanh nghiệp ngoại đang nắm trong tay một chuỗi cung ứng từ sản xuất cho tới phân phối. Bên cạnh đó các doanh nghiệp ngoại hầu hết đều là những doanh nghiệp lớn có lợi thế về vốn và kinh nghiệm nhiều năm. Họ đều có chiến lược làm việc âm thầm nhưng rất bài bản. Đây sẽ là những thách thức lớn cho các doanh nghiệp trong nước trên con đường khẳng định vị thế trên sân nhà.

Không ít lời e ngại Việt Nam sẽ mất chỗ đứng khi hệ thống chuỗi siêu thị, cửa hàng bán lẻ của Việt Nam tuy có nhiều cải tiến và được nâng cấp nhưng vẫn thiếu tính chuyên nghiệp, từ công nghệ quản trị chuỗi, tổ chức trưng bày hàng hóa, giá cả thiếu cạnh tranh, nguồn hàng chưa phong phú, đa dạng, mức độ kiểm soát chất lượng hàng hóa chưa đáp ứng yêu cầu, mạng lưới chưa rộng khắp và chưa tương xứng với đa dạng nhu cầu của khách hàng. Thị trường bán lẻ Việt Nam bộc lộ nhiều khiếm khuyết, nhưng lớn nhất là thiếu tính liên kết giữa các lực lượng tham gia thị trường bán lẻ và thiếu đi một nhạc trưởng trong từng mãng kinh doanh nên các nhà cung cấp mạnh ai nấy rao, nhà bán lẻ mạnh ai nấy bán, cạnh tranh lẫn nhau, dẫn tới tất cả đều phát triển manh mún, thiếu bài bản. Những doanh nghiệp bán lẻ tạo được niềm tin đối với các nhà sản xuất, nhà cung cấp, đảm bảo được nguồn hàng ổn định phục vụ người tiêu dùng không nhiều, chỉ có một vài doanh nghiệp thuần Việt như Co-opmart, MaxiMark, Coop Foods, Satra Foods… là bước đầu làm được điều đó. Đội ngũ nhân sự bán lẻ thiếu chuyên nghiệp từ khâu nhập hàng, trưng bày đến giao tiếp với người tiêu dùng. Và nó bắt nguồn từ cách tư duy rất cũ của những người bán lẻ.
loading...
l

Không có nhận xét nào: